Các thị trường ngách mới nổi có thể mang lại cơ hội và năng suất cao hơn
Dịch vụ hậu cần kho bãi (logistics) đã và đang đứng đầu trong các danh mục đầu tư. Tuy nhiên, các nhà đầu tư cần suy nghĩ thấu đáo để tìm ra những cơ hội và giá trị thực sự trong lĩnh vực này.
Đại dịch Covid-19 là một chất xúc tác cho nền kinh tế kỹ thuật số, thúc đẩy thị phần thương mại điện tử của ngành bán lẻ tăng lên ở tất cả các thị trường trên toàn thế giới. Logistics là một yếu tố quan trọng để đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên đó. Các ước tính cho rằng, sau đại dịch, chi tiêu bán lẻ trực tuyến ở Tây Âu sẽ tăng 442 tỷ euro vào năm 2025. Cứ thêm 1 tỷ euro doanh thu bán hàng trực tuyến sẽ tạo ra nhu cầu trung bình 75.000 m2 diện tích nhà kho. Như vậy, đến năm 2025, lĩnh vực bán lẻ trực tuyến trong khu vực sẽ tăng thêm 33,2 triệu m2 nhu cầu kho bãi.
Năng suất bán lẻ và công nghiệp toàn cầu

Nguồn: Savills Research using Real Capital Analytics
Với những yếu tố cơ bản đó, các nhà đầu tư dành rất nhiều ưu ái cho lĩnh vực này. Tuy nhiên, nguồn cung logistics hiện tại là không đủ cho những nhu cầu trên. Phần lớn nguồn cung nằm trong tay các nhà quản lý và nhà phát triển khu vực và toàn cầu như Prologis, GLP hoặc Crow Holdings. Những công ty này có quỹ đất lớn và có một lượng cổ phiếu khổng lồ, nhưng họ lại hiếm khi bán chúng, hoặc chỉ bán cho một trong những quỹ đầu tư bất động sản của chính mình.
Việc thiếu hàng dự trữ đã khiến chỉ số lợi suất của ngành logistics xuống tới mức thấp nhất mọi thời đại. Dữ liệu của Real Capital Analytics cho thấy lợi suất ngành logistics trung bình toàn cầu hiện tại nằm ở mức 5,8%, chỉ cao hơn 30 điểm cơ bản (basis points - BPS) so với lợi suất của khối văn phòng và thấp hơn lợi suất ngành bán lẻ. Con số này còn thấp hơn nhiều ở các thị trường phát triển; chẳng hạn ở Tokyo, lợi suất ngành logistics nằm ở mức dưới 4%. Ông Troy Griffiths, Phó tổng giám đốc, Savills Việt Nam nhận định “Đối với các nhà đầu tư không muốn đấu giá tài sản tranh chấp hoặc chưa có quy mô đủ lớn để hợp tác với một nhà phát triển logistics, thì vẫn có những thị trường ngách mới nổi mà lĩnh vực này mang lại, với nhiều cơ hội hơn và lợi suất cao hơn. Mặt trái của nó là tìm kiếm cơ hội thị trường mới nổi như Việt Nam, nơi lợi suất vẫn nằm trong khoảng 9% đến 11%.”
.jpg)
Ông Troy Griffiths, Phó Tổng giám đốc, Savills Việt Nam
• Tìm hiểu thêm IMPACTS 2021 Evolve and Podcast
Những lĩnh vực phát triển
Kho lạnh là một phần chuyên biệt của chuỗi cung ứng, sử dụng các nhà kho kiểm soát nhiệt để lưu trữ và vận chuyển thực phẩm hoặc vật tư y tế, chẳng hạn như vắc xin. Một báo cáo của Research & Markets ước tính rằng 7,9 tỷ đô la đã được đầu tư để phát triển kho bảo quản lạnh trên toàn cầu vào năm ngoái, con số này sẽ tăng lên 19 tỷ đô la vào năm 2027, do sự thúc đẩy của nhu cầu mua sắm hàng tạp hóa trực tuyến và giảm lãng phí thực phẩm. Hiện nay trên thế giới, các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) ngày càng nghiêm ngặt hơn và đang hướng đến chuỗi cung ứng thực phẩm để giảm lãng phí thực phẩm, từ đó thúc đẩy nhu cầu về kho lạnh. Đối với các nhà đầu tư, kho lạnh mang lại lợi suất cao hơn 50-100 điểm cơ bản so với các cơ sở hậu cần khô, và do chi phí lắp đặt cao nên người thuê thường luôn sẵn sàng ký hợp đồng thuê dài hạn.
Nhu cầu giao hàng nhanh chóng của người tiêu dùng đã làm tăng nhu cầu về các kho hậu cần ở chặng cuối (last-mile logistics warehouse), nằm ở gần vị trí của khách hàng. Ví dụ, tại Paris, SEGRO đang phát triển một trung tâm hậu cần đô thị ngầm rộng 75.000 m2 tại nhà ga Gobelins cũ.
Nhiều loại hình bất động sản công nghiệp khác cũng sẽ tiếp tục được mở rộng. Các nhà sản xuất nội dung như Netflix và Apple đã lấy không gian kho bãi để sử dụng làm phim trường bởi sự bùng nổ của các dịch vụ phát trực tuyến video. Nhu cầu ngày càng cao về không gian studio đang thúc đẩy nhu cầu về kho bãi ở các thành phố mạnh về truyền thông như London, Los Angeles và New York.
Trong khi đó, hội nghị truyền hình và điện toán đám mây bùng nổ đồng nghĩa với việc nhu cầu về trung tâm dữ liệu đang tăng lên trên toàn thế giới. Ở Trung Quốc, những quỹ phát triển trung tâm dữ liệu mới đã được ra đời bởi Gaw Capital Partners. Ngoài ra, Keppel Group cũng đã phát triển nhiều quỹ để xây dựng và phát triển các trung tâm dữ liệu ở thị trường Châu Á và Châu Âu. Việt Nam đang ở ngã rẽ, với sự bùng nổ của thương mại điện tử và sự thúc đẩy mạnh mẽ hướng tới nền kinh tế kỹ thuật số. Tuy nhiên, các Trung tâm dữ liệu hiện tại sẽ phải vật lộn để đối phó và những quốc gia hàng đầu và khó có khả năng vượt qua sự kìm kẹp của họ. Cơ hội dành cho các các quốc gia đang phát triển và data centers đang tăng lên, miễn là môi trường pháp lý thực tiễn.
Ông Troy cho biết thêm “Cũng có nhiều khả năng sẽ sớm xuất hiện những nhu cầu mới về cơ sở sản xuất ở các thị trường đã phát triển, khi các công ty đa dạng hóa chuỗi cung ứng của mình để đáp ứng nhu cầu 'thuê lại' hoạt động sản xuất, đặc biệt là khi công nghệ tự động hóa ngày càng bù đắp chi phí nhân công lao động. Với các thị trường lân cận mạnh mẽ ở châu Á, Việt Nam gần đây đã đứng đầu trong chỉ số phát triển gần của Savills.”
Năng lượng mặt trời: sự phù hợp hoàn hảo
Các nhà đầu tư vào sản xuất năng lượng mặt trời phải đối mặt với chi phí trả trước cho hệ thống và lắp đặt, nhưng phí tổn tối thiểu đang diễn ra, trong khi bảo trì thì lại đơn giản và tương đối rẻ: một tấm pin năng lương bị hỏng có thể dễ dàng thay thế và không làm hỏng toàn bộ hệ thống. McMillan cho biết: Bản chất mô-đun của năng lượng mặt trời khiến nó trở thành “sự phù hợp hoàn hảo cho bất động sản”. "Nó có thể được lắp đặt trên mái nhà hoặc một tán cây trên một bãi đậu xe, cho phép chủ sở hữu tài sản tự tạo ra điện của họ." Các tấm pin mặt trời được lắp đặt trên các tòa nhà đa dạng như tòa nhà Burj Khalifa ở Dubai, Nhà Trắng ở Washington, DC và ' Cao ốc văn phòng "Án Nhật Nguyệt' ở Đức Châu, Trung Quốc, một trung tâm hội nghị và triển lãm với 5.000 mét vuông pin mặt trời trên mái của nó. Riêng năng lượng mặt trời có khả năng giảm lượng khí thải carbon toàn cầu lên tới 25% vào năm 2050.
Năng lượng mặt trời có thể hoạt động cho mặt tiền cũng như mái nhà. Gần đây tập đoàn Hàn Quốc Hanwha đã tu sửa lại tòa tháp hội sở của họ ở Seoul với mặt tiền bao gồm các tấm pin mặt trời hướng lên trên. Các tấm này cũng che nắng cho các cửa sổ bên dưới, giảm sự tăng nhiệt. Mặt nghiêng thấp, rộng của kho bãi các toà nhà có nghĩa các tấm pin mặt trời đã được chứng minh là phổ biến đối với các công ty bất động sản hậu cần. ESR, chuyên gia hậu cần châu Á - Thái Bình Dương đã lắp đặt các tấm pin mặt trời trên gần hai triệu m2 kho bãi toàn khu vực, theo báo cáo thường niên năm 2019 và phát ra 95.000 GJ trong năm, đủ để cung cấp năng lượng cho 2.500 ngôi nhà. Các chủ sở hữu bất động sản thương mại lắp đặt năng lượng mặt trời có thể được hưởng lợi từ chi phí điện năng thấp hơn. Hiệp hội Công nghiệp Năng lượng Mặt trời ước tính một tòa nhà văn phòng trung bình của Hoa Kỳ có thể tiết kiệm 20-40% hóa đơn năng lượng hàng năm từ việc lắp đặt các tấm pin mặt trời.
Việc sử dụng năng lượng tái tạo có thể đóng góp vào các mục tiêu ESG của công ty hoặc đáp ứng các yêu cầu của luật xanh. Chủ sở hữu tài sản cũng có thể bán lại điện năng dư thừa cho lưới điện. Ví dụ: chương trình Đảm bảo Xuất khẩu Thông minh của Vương quốc Anh cho phép bán lượng điện tái tạo dư thừa cho các công ty năng lượng với giá 2-5,6p / kWh. Hàng triệu ngôi nhà trong khu dân cư mang lại cơ hội đáng kể cho việc sử dụng năng lượng mặt trời. Đối với các chủ sở hữu nhà ở, những trở ngại chính đó là chi phí trang bị và sự xuất hiện thêm của các tấm pin năng lượng. Tuy nhiên, các nhà phát triển đang lắp các tấm pin mặt trời trên nhiều ngôi nhà mới ở châu Âu và các tấm tích hợp trên mái nhà ít gây khó chịu hơn.
Một lĩnh vực luôn luôn thay đổi
Cuối cùng, chúng ta không nên cho rằng những xu hướng nãy đã được định sẵn. Thương mại điện tử sẽ không phát triển với tốc độ như trong năm 2020, trong khi ở một số thị trường đang xuất hiện phản ứng dữ dội về hoạt động của lĩnh vực này. Ở Anh, có những lời kêu gọi tái cân bằng cạnh tranh giữa Amazon và các nhà bán lẻ khác bằng cách tăng tỷ lệ kinh doanh trên diện tích kho bãi. Thẻ hashtag #boycottamazon xuất hiện thường xuyên trên mạng xã hội ở Mỹ. Tương tự làn sóng trên, ở Trung Quốc, các nhà quản lý chống độc quyền đã hạ bệ Alibaba với khoản tiền phạt 2,8 tỷ USD.
Ngành bán lẻ trực tuyến đã đã bị chỉ trích bởi số lượng bao bì khổng lồ mà nó tạo ra, việc giao hàng sinh ra một lượng lớn khí thải carbon, mà nửa trong số đó đến từ chặng cuối của quy trình giao nhận hàng hóa. Forrester ước tính rằng 20% hàng mua trực tuyến bị trả lại, và dịch vụ logistics thu hồi (hậu cần ngược) Optoro của Hoa Kỳ ước tính có đến 25% hàng trả lại bị tiêu hủy hoặc vứt đi.
Mối quan tâm về môi trường hoặc quy mô và sức mạnh của các nhà bán lẻ trực tuyến toàn cầu sẽ không làm chệch hướng ngành thương mại điện tử, nhưng sẽ có nhiều khả năng các nhà bán lẻ sẽ tổ chức lại hoạt động hậu cần của mình để giảm thiểu việc giao hàng, hoặc để đáp ứng mục tiêu tái chế, từ đó làm biến chuyển loại không gian mà họ yêu cầu để thực thi những thay đổi trên.
• Đọc thêm các nhận định từ chuyên gia: IMPACTS 2021 Evolve and Podcast



.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)

(2).jpg)